CUT or BUILD

Khi một bộ phận hoạt động không hiệu quả thì có lẽ yếu tố đầu tiên mà CON NGƯỜI. M

Thì tất nhiên, không phải:

(1) CON NGƯỜI vận hành bộ phận này không ổn, thì

(2) CON NGƯỜI thiết kế hệ thống này không ổn.

Vấn đề này đang hiện hữu ở bộ phận Vật Tư (Purchasing) của mình. Để giải quyết triệt để chắc phải làm hết cả 2 CON NGƯỜI nêu ở trên. Nhưng tạm thời chưa làm được (1) thì bắt đầu làm với cái (2) vậy.

Tuần rồi đã thay đổi cách quản lý công việc của bộ phận này từ mô hình quản lý cũ theo CHỨC NĂNG thành quản lý theo nhóm ĐỐI TÁC.

Trước đây bộ phận này phân chia công việc theo chức năng theo thứ tự Hỏi Giá, Gọi Hàng, Theo Dõi tiến độ, Thanh Toán-Công Nợ. Làm kiểu này thật là phức tạp cho một bộ phận có 4 người, và kết quả là hiệu quả thấp, đội Sales kêu như vạc vì chất lượng dịch vụ của phòng Vật Tư.

Vừa ngồi làm việc với phòng và đề ra phương án tổ chức lại công việc theo kiểu mỗi đồng chí chịu trách nhiệm một nhóm các ĐỐI TÁC và chịu trách nhiệm tuyệt đối tất cả các công đoạn liên quan đến ĐỐI TÁC của mình.

Bắt đầu triển khai vào tuần sau.

Phải làm cách mạng mới có thay đổi.

Đúng như mình dự  đoán, với phong cách “Nói thẳng và shock”  như  em kế toán trưởng mới thì thể nào cũng có cãi nhau to.

Hôm nay đã có giông bão. Phòng kế toán cãi nhau kịch liệt, nếu không có sự can thiệp kịp thời thì chẳng biết việc gì sẽ đến😀.

Nhưng mình thích thế, cái bộ phận kế toán lình sình gần cả 1 năm rồi. Cần phải thay đổi, mà thay đổi thì phải làm CÁCH MẠNG là phải fighting chứ không theo chủ nghĩa PHAN BỘI CHÂU được.

Sample online marketing plan

==> Cần tuyển nhân viên làm online marketing, click here để biết thêm chi tiết

Đây là một case study mẫu cho mô hình “7 bước mua hàng trực tuyến” (Phần 1; Phần 2) mà tôi đã có dịp trình bày ở các bài trước.

Đánh giá hiệu quả của quảng cáo truyền thống

==> Cần tuyển nhân viên làm online marketing, click here để biết thêm chi tiết

Quảng cáo truyền thống có thể hiểu là quảng cáo qua các phương tiện truyền thống như Tivi, đài, báo và quảng cáo ngoài trời (Kotler, 2005).

Tính hiệu quả của quảng cáo được đo lường theo thái độ của người tiêu dùng đối với sản phẩm quảng cáo và sự thay đổi trong ý định mua sản phẩm đó (Nysveen & Breivik, 2005).

Sự giảm hiệu quả của quảng cáo do tác động của 3 nguyên nhân chính:
– Hạn chế của bản thân quảng cáo
– Sự phát triển của công nghệ
– Sự thay đổi trong hành vi của người tiêu dùng

1. Các hạn chế của quảng cáo

1.1 Các con số

Chi phí quảng cáo đang ngày 1 tăng lên
Nếu năm 1972, chi phí cho 1 spot quảng cáo 30 giây của Super Bowl là 86,000 đô la ( chi phí bình quân đầu người là 1, 52 đô ) thì đến năm 2001, chi phí trung bình cho 1 spot quảng cáo 30 giây của Super Bowl là 2,100,000 ( chi phí bình quần đầu người là 23,73 đô) tăng 16 lần so với trước (Ries & Ries, 2002).

Số lượng quảng cáo quá mứcMarketing mesh
Theo nghiên cứu mới đây, 65% dân Mĩ nói rằng họ luôn bị dội bom bởi quảng cáo, 2/3 người được phỏng vấn trả lời họ nhìn nhận quảng cáo tiêu cực hơn rất nhiều so với nhiều năm trước (Kotler, 2008).

Sự đo lường tính hiệu quả của quảng cáo
Nếu câu nói của John Wanamaker “Tôi biết 1 nửa chi phí dành cho quảng cáo bị lãng phí nhưng ko biết là nửa nào” thì 1 câu nói khác ít được biết đến hơn của Niall Fitzgernald – chủ tịch của Unilever đã ám chỉ mức độ lãng phí khó chấp nhận của quảng cáo (Jaffe, 2005): “ Nếu có ai đó hỏi tôi liệu rằng nửa nào trong chi phí quãng cáo bị lãng phí thì tôi có thể trả lời rằng đến 90% là lãng phí nhưng tôi chẳng biết 90% nào” 

1.2 Cách tiếp cận đã lỗi thời

1 trong những hạn chế của quảng cáo là nó ko nhằm đến 1 đối tượng cụ thể nào, thay vào đó, quảng cáo chỉ cố gắng thu hút sự chú ý của số đông và đo lường theo số lượng tiếp cận được (point of reach). Nhà sản xuất gửi cùng 1 thông điệp đến tất cả các khách hàng – những người có mong muốn về sự khác biệt trong đối xử và cách tiếp cận từ nhà sản xuất.

Nếu như quảng cáo truyền thống cố gắng tiếp cận được càng nhiều người càng tốt thì phương thức mới đã tập trung hơn vào thị trường mục tiêu. Rosenstock (2007) đã chia các phương tiện quảng cáo thành 2 nhánh: quảng cáo không nhằm vào đối tượng cụ thể ( báo chí, ngoài trời, phương tiện điện tử) và quảng cáo nhắm vào các đối tượng cá nhân (direct mail và telemarketing).

One-way marketing

Quảng cáo là phương thức thông tin 1 chiều và khán giả không thực sự tham gia vào quá trình này (Armstrong & Kotler, 2005). Sacharin (2001) cũ

ng đề cập đến hạn chế của quảng cáo dưới góc độ các hoạt động kéo và đẩy của marketing ( pull & push activities). Theo ông, các hoạt động đẩy “ăn trộm”, “cướp” đi sự chú ý của người tiêu dùng nhân lúc họ không để ý trong khi các hoạt động lôi kéo khách hàng lại khiến họ chủ động hơn trong việc tiếp nhận.

Đo lường kết quả quảng cáo vẫn luôn là vấn đề được nhắc đến, Kotler (2008) cho rằng các nhà hiện tại vẫn chưa thể đưa ra được đáp án cho câu trả lời đơn giản về kết quả mang lại từ quảng cáo bởi vì “họ không có 1 mô hình và phương phác thực sự để đo lường” (Elliot, 2005).

Bên cạnh đó, trong thời đại bùng nổ các phương tiện thông tin như hiện nay, điều quan trọng không phải là có bao nhiêu người đang xem quảng cáo, mà là họ có đang chú ý đến quảng cáo đó hay không và có phản ứng sau khi xem không (Vollmer & Precourt, 2008). Điều này cũng có nghĩa là các công cụ đo lường như số lượng xem (gross ratings points), lượng báo phát hành (print circulation)…đã không còn thích hợp trong thời đại mới.

1.3 Những điểm yếu của quảng cáo khiến quảng cáo truyền thống bị hạn chế

Sản xuất biến đổi từ sản xuất đại trà ( one-size-fits-all ) sang thiết kế theo yêu cầu cá nhân ( how-would-you-like-your-car-done ) (Jaffe, 2005). Những thiết kế theo nhu cầu và cá nhân hóa sản phẩm đã không còn ở giai đoạn “có thì tốt” mà là ” buộc phải có”. Chúng ta đã không còn ở trong thời kì cách mạng công nghiệp nữa mà là thời kì của sự khác biệt hóa (Jaffe, 2005).

Thông tin phản hồi đa chiều là nhu cầu mới

Thông tin phản hồi đa chiều là nhu cầu mới

Sự bùng nổ thông tin và các phương tiện truyền thông, các phương thức tiếp cận cũ rơi vào giai đoạn khó khăn để duy trì. Hơn thế nữa, khi mà các phương tiện truyền thông ngày càng trở nên đắt đỏ thì thái độ của người tiêu dùng đối với các hoạt động Marketing cũng đang trở nên thay đổi, những nhu cầu mới đặt ra thách thức cho các nhà tiếp thị và “Điều quan trọng không phải là bạn có lướt qua được người xem hay không mà là đo lường được có bao nhiêu người thực sự đang nhìn theo bạn”. (Câu chính xác của nó là thế này cơ ạ: “It’s more important to reach the people that count than to count the people you reach” (Hoyle, 2002, p.41).

Ries & Ries (2002) trong “Quảng cáo thoại vị, PR lên ngôi” đã đề cập đến sự thiếu lòng tin của người tiêu dùng đối với quảng cáo. Mọi người thực sự không tin vào quảng cáo mặc dù họ ghi nhớ và có thể nhắc lại 1 số quảng cáo nhất định.

Theo Zyman & Brott (2002), nguyên nhân gây ra cái chết của quảng cáo 1 phần là do sự khác biệt trong cách nhìn nhận giữa các đại lý quảng cáo và khác hàng của họ – những người muốn quảng cáo phải giúp tăng trưởng lượng bán trong khi các đại lý quảng cáo lại muốn thiết kế sản phẩm thật ấn tượng, được khách hàng lưu tâm, ghi nhớ và nhắc đến nhưng lại không tìm ra lí do tại sao họ phải mua sản phẩm được quảng cáo.

(from friend of mine: HongLien)

5 sai sót chủ yếu trong khi triển khai online marketing

==> Cần tuyển nhân viên làm online marketing, click here để biết thêm chi tiết

==> Cần tuyển nhân viên làm online marketing, click here để biết thêm chi tiết

Có một số bạn gửi email cho mình thắc mắc là thấy mọi người bảo làm online marketing như đăng banner trên các website và dùng dịch vụ Google Adwords là rất tiết kiệm và hiệu quả, nó có thể giúp một website tăng nhanh traffic, nhưng thực tế không được như mong đợi, tại sao lại thế? Bài viết này mình tổng kết 5 nguyên nhân cơ bản nhất.

1. Không có tư vấn tổng thể

Cũng giống như xây nhà, nếu không có kiến trúc sư tư vấn thì tự ta cũng chỉ xây được cái nhà cấp 4, với 4 bức vách và 1 cái máy là cùng, chứ không thể xây được 1 căn nhà 4 tầng hoặc biệt thự  với màu sắc hài hòa, nội thất sang trọng được. Tương tự như vậy, nếu không có người có chuyên môn và kinh nghiệm tư vấn thì chiến dịch quảng cáo của bạn chắc chắn không hiệu quả hoặc không có sức bùng phát.

2. Không phân tích đối tượng khách hàng cẩn thận

Không phải sản phẩm, dịch vụ nào sinh ra là cho tất cả mọi người, từ trẻ đến giá, từ trai đến gái. Mỗi sản phẩm, dịch vụ chỉ phù hợp với một số nhóm đối tượng chính vì thế ta cần phải xác định rõ nhóm đối tượng để biết được lứa tuổi, thói quen, sở thích của họ. Nếu làm không tốt bước này sẽ dẫn đến những sai lầm như sau, từ đó làm giảm hiệu quả của việc làm quảng cáo trực tuyến.

3. Website chọn đăng banner không phù hợp:

vnexpress.net và zing.vn là những website có lượng truy cập hàng đầu Việt Nam, nhưng không có nghĩa là đăng banner lên đó là tốt. Lấy ví dụ: nếu một công ty làm thiết kế nội thất mà đăng banner lên Zing.vn thì chắc chắn là chỉ có vứt tiền qua cửa sổ mà thôi. Vì đối tượng của thiết kế nội thất là những người có độ tuổi ít nhất từ 30 trở lên, kinh tế khá giả, trong khi Zing.vn là portal cho giới teen.

Sau khi thấy đăng banner lên các trang trên không hiệu quả và chi phí lại cao, người bạn tôi có nghiên cứu lại và chuyển sang hướng đăng ở các forum có nhiều người quan tâm đến xây dựng và nội thất nhà ở.  Nhưng kết quả vẫn không được như mong đợi. Khi tôi kiểm tra forum ấy thì thấy là đúng là có nhiều người quan tâm đến kiến trúc và xây dựng thật đấy, nhưng đây lại là forum của những kỹ sư và kiến trúc sư, họ ở đây để trao đổi kiến thức là chính, chứ chẳng mua bán gì ráo.

4. Website đăng banner có lượng người truy cập không nhiều:

Sau khi chọn đúng website (forum) có đúng đối tượng bạn cần thì chỉ nên chọn website này nếu lượng truy cập hàng ngày đạt ít nhất là 20,000 visit/day trở lên.

Để biết được website nào có traffic được như vậy thì bạn có thể dùng công cụ Ad Planner của Google:  https://www.google.com/adplanner

Công cụ này sẽ giúp bạn lọc ra những website nào có traffic cao trong lĩnh vực bạn định quảng cáo.

5. Không kiểm tra độ phổ biến của keywords đã chọn

Một sai sót nữa mà các bạn mới làm quảng cáo trực tuyến khi dùng dịch vụ Google Adwords hay gặp phải nữa là các từ keywork được chọn cho chiến dịch quảng cáo quá ít người dùng tìm kiếm hay là độ phổ biến của từ khóa đấy trên mạng không nhiều.

Ví dụ: có lần 1 khách hàng chuyên bán các thực phẩm chức năng nhờ triển khai Adwords cho họ. Họ nhất quyết yêu cầu là phải đặt các từ khóa như là: thực phẩm chức năng, tảo dinh dưỡng, tảo xoắn. Tuy vậy khi mình tiến hành phân tích và đưa cho khách hàng kết quả thì họ thay đổi ngay ý định ban đầu vì hầu như là một tháng chỉ có vài lần từ  khóa này được tìm kiếm.

Đây là lối suy nghĩ trực tiếp đến một vấn đề. Nếu phương pháp chọn từ khóa theo cách nghĩ trực tiếp như vậy không ổn thì chúng ta dùng phương án gián tiếp và có liên quan. Ví dụ: sau khi quan sát và phân tích mình thấy là các sản phẩm thực phẩm chức năng này có tác dụng chống béo phì, hạn chế tiểu đường,… thì mình quyết định chọn các từ khóa này. Sau khi kiểm tra lại thì thấy rõ là: với từ khóa “béo phì” có hơn 2000 lượt người tìm/tháng và từ khóa “tiểu đường” thì có gần 10,000 lượt người tìm/tháng.

Như vậy, ngoài công cụ nghĩ trực tiếpgián tiếpliên quan thì bạn nên dùng công cụ Keyword tool có trong Google Adwords (https://adwords.google.com) để kiểm tra xem các từ khóa đấy có “phổ biến” hay không? Nếu từ khóa đấy dưới 500lượt/tháng thì không nên chọn.

Tất nhiên là có nhiều sai sót khác mà không thể liệt kê hết ở đây được ví dụ như là:; không chuẩn bị sản phẩm, website hoàn chỉnh; nội dung website không cập nhập hàng ngày… nếu có thể mong mọi người chia sẽ thêm.

Quản lý và xử lý e-mail sử dụng GTD

Quản lý và xử lý e-mail

(Hãy tự phân loại e-mail của mình thay vì dùng công cụ đặt luật (rule))

Trong bài “luật 2 phút” tôi có nói đến mô hình Getting Things Done (GTD) của Allen và có vẽ cái mô hình GTD nhưng chưa nói gì thêm đúng không nhẩy?

gtd_principle.jpg

Bạn có thể đọc thêm ý nghĩa của mô hình GTD này ở trên wiki, còn tôi chỉ muốn chia sẻ với các bạn là tôi áp dụng nó trong công việc hàng ngày của tôi như thế nào thôi.

Với những người làm việc văn phòng thì e-mail là một công cụ không thể thiếu để liên lạc và trao đổi công việc: khách hàng gửi e-mail hỏi về sản phẩm, sếp gửi e-mail giao dịch, em út gửi e-mail hẹn hò, bạn bè gọi đi chơi và spam mail gửi e-mail quảng cáo…Tóm lại, công việc của chúng ta gần như lệ thuộc rất nhiều với hệ thống e-mail, nếu chúng ta không biết cách quản lý công việc liên quan đến email thì đôi khi ta bị ngập lụt với nó.

Các hệ thống e-mail như là Microsoft Outlook cung cấp cho chúng ta một công cụ tưởng chừng như là rất hiệu nghiệm là công cụ đặt luật để chuyển e-mail đến những nơi thích hợp. Nhưng tiếc thay công cụ này chỉ dùng để sắp xếp e-mail theo folder là còn có ý nghĩa nhưng nội dung (công việc) trong e-mail đó như thế nào và sử lý ra sao thì việc đặt luật chẳng thể xử lý được. Nói cách khác: Bản chất của việc nhận e-mail là việc nhận và xử lý công việc (gọi chung là quản lý công việc), nên việc sắp xếp e-mail theo một rule đặt trước chẳng có ý nghĩa gì cả, mà việc xử lý công việc liên quan đến e-mail đó mới quan trọng.

Khi đọc GTD tôi thử áp dụng luôn vào việc quản lý công việc liên quan đến e-mail của mình, và kết quả thật tuyệt vời, tôi không còn bị rối tung lên bởi đống e-mail của mình nữa, công việc liên quan đến e-mail được xử lý một cách nhanh gọn, và hợp lý. Đó là cách mà tôi luôn giữ cho hộp INBOX của mình luôn trống (empty).

e-mail_gtd_1.gif

Bước 1: Xóa tất cả các rules mà bạn đã lập, và hãy xác định cho mình là bạn sẽ tự phân loại e-mail bằng tay.

Bước 2: Tạo các folders tối thiểu như trên:

  • Next-Answer: dùng để lưu các e-mail mà bạn sẽ trả lời (hoặc xử lý công việc liên quan) trong thời gian ngắn nhất có thể
  • Waiting List: dùng để lưu các e-mail mà bạn sẽ trả lời (hoặc xử lý công việc liên quan) khi có thêm thông tin bổ xung, hoặc cần phải đợi một điều gì đó nữa.
  • Someday/Maybe: Dùng để lưu các e-mail mà bạn sẽ trả lời trong một thời gian nào đó mà không cần gấp lắm.
  • Archive: Hòm thư dùng để sao lưu các e-mail trong quá khứ (ví dụ những e-mail trong năm 2006)
  • References: Hòm thư dùng để lưu trữ các e-mail tuy bạn không phải xử lý trực tiếp nhưng những thông tin đó có giá trị và có thể bạn sẽ dùng về sau. Ví dụ như e-mail của đối tác giới thiệu về một sản phẩm mới.
  • Trash: Đây là hòm thư để bạn vứt những mail rác, mail không liên quan đến và không phải việc mà mình xử lý.

Bước 3: Tự phân phối và quyết định phương thức xử lý e-mail theo mô hình GTD.

(Bạn xem lại 1 lần mô hình GTD ở trên)

Vì không có rule nào được đặt nên tất cả các e-mail mới đều nằm trong hòm INBOX, khi e-mail đến, việc đầu tiên là bạn đọc lướt nội dung của nó (What is it?) và quyết định xem nó xứng đáng phải đặt vào đâu (actionable?). Nếu e-mail có nội dung chẳng liên quan đến mình thì ngay lập tức kéo thả vào hòm Trash (hoặc nhấn phím delete cho nhanh). Xin lưu ý với các bạn là các hòm thư web-based hiện nay(như là gmail &yahoo) đều đã hỗ trợ tính năng kéo thả nên việc vứt e-mail vào đâu đơn giản như là ném một vật vào thùng rác hay trưng nó trên tủ kính.

e-mail_drap_n_drop.gif

Trong trường hợp e-mail đó có nội dung không liên quan đến mình, nhưng nội dung (hoặc file đính kèm) có thể mình sẽ dùng đến về sau, thì bạn kéo-thả nó vào hòm thư “References”.

Còn nếu e-mail mà bạn vừa đọc có liên quan đến mình (Actionable), và bạn có thể trả lời/xử lý ngay trong 2 phút thì bạn nên trả lời ngay. Còn nếu lớn hơn thì bạn kéo/thả vào hòm “Next Answer”.

Hòm “Waiting” dùng để bạn chứa các e-mail mà bạn sẽ xử lý công việc liên quan khi có thêm thông tin nữa. Ví dụ như là: bạn chỉ trả lời tỉ lệ giảm giá (discount) cho khách hàng khi có được e-mail confirm của sếp.

Hòm Someday/Maybe: Dùng để lưu các e-mail mà bạn sẽ trả lời trong một thời gian nào đó mà không cần gấp lắm.

Với cách sử dụng e-mail như trên tôi luôn quản lý các công việc rất trôi chảy và hợp lý và luôn giữ cho INBOX mình luôn empty.

Bill Gates đùa dại & “Buzz” marketing

Bill quả là thiên tài trên gần như tất cả lĩnh vực mà ông làm. Có lẽ bài talk của Bill ở TED cũng chỉ bình thường và chỉ có những nhân vật cao cấp tham gia TED và những người hay vào TED.com mới biết đến bài nói này. Tuy vậy, với chiêu bài “thả muỗi” Bill đã tạo “buzz” (Buzz=hành động làm nhiều người bàn tán và truyền bá đến những người khác). Bill đã làm cho những nhân vật tham gia hôm ấy phải thốt lên kinh ngạc và viết những dòng cảm nghĩ của mình lên Blog của họ. Đây đều là những nhân vật rất nổi tiếng (như là President của eBay) và tất nhiên từ  những blog này có hàng triệu ngưới sẽ biết đến hành động thả muỗi này và tiếp tục bàn luận và phán tán đến bạn bè họ (ví dụ như tui😀. Và việc bàn luận và phân tán lại tiếp tục và tiếp tục. Và kết quả là clip của Bill được nhanh chóng lan ra toàn cầu trong vòng chục tiếng đồng hồ.

Thật tuyệt vời, bằng cách tạo Buzz này Bill đã đạt được mục đích của mình. Ông muốn thông điệp về những người nghèo ở các nước đang phát triển (như Việt Nam) đang phải đối mặt với căn bệnh sốt rét chết người  như thế nào được biết đến trên toàn thế giới và hy vọng quỹ “Bill & Melinda Gates” của ông/bà Bill nhận được nhiều sự đóng góp hơn, góp phần giúp những người dân nghèo khổ ngăn chặn căn bệnh này.

Clip Bill Gates phát biểu và thả muỗi:

Survey 1 chút nhỉ?