Sample online marketing plan

Đây là một case study mẫu cho mô hình “7 bước mua hàng trực tuyến” (Phần 1; Phần 2) mà tôi đã có dịp trình bày ở các bài trước.

Đánh giá hiệu quả của quảng cáo truyền thống

Quảng cáo truyền thống có thể hiểu là quảng cáo qua các phương tiện truyền thống như Tivi, đài, báo và quảng cáo ngoài trời (Kotler, 2005).

Tính hiệu quả của quảng cáo được đo lường theo thái độ của người tiêu dùng đối với sản phẩm quảng cáo và sự thay đổi trong ý định mua sản phẩm đó (Nysveen & Breivik, 2005).

Sự giảm hiệu quả của quảng cáo do tác động của 3 nguyên nhân chính:
- Hạn chế của bản thân quảng cáo
- Sự phát triển của công nghệ
- Sự thay đổi trong hành vi của người tiêu dùng

1. Các hạn chế của quảng cáo

1.1 Các con số

Chi phí quảng cáo đang ngày 1 tăng lên
Nếu năm 1972, chi phí cho 1 spot quảng cáo 30 giây của Super Bowl là 86,000 đô la ( chi phí bình quân đầu người là 1, 52 đô ) thì đến năm 2001, chi phí trung bình cho 1 spot quảng cáo 30 giây của Super Bowl là 2,100,000 ( chi phí bình quần đầu người là 23,73 đô) tăng 16 lần so với trước (Ries & Ries, 2002).

Số lượng quảng cáo quá mứcMarketing mesh
Theo nghiên cứu mới đây, 65% dân Mĩ nói rằng họ luôn bị dội bom bởi quảng cáo, 2/3 người được phỏng vấn trả lời họ nhìn nhận quảng cáo tiêu cực hơn rất nhiều so với nhiều năm trước (Kotler, 2008).

Sự đo lường tính hiệu quả của quảng cáo
Nếu câu nói của John Wanamaker “Tôi biết 1 nửa chi phí dành cho quảng cáo bị lãng phí nhưng ko biết là nửa nào” thì 1 câu nói khác ít được biết đến hơn của Niall Fitzgernald – chủ tịch của Unilever đã ám chỉ mức độ lãng phí khó chấp nhận của quảng cáo (Jaffe, 2005): “ Nếu có ai đó hỏi tôi liệu rằng nửa nào trong chi phí quãng cáo bị lãng phí thì tôi có thể trả lời rằng đến 90% là lãng phí nhưng tôi chẳng biết 90% nào” 

1.2 Cách tiếp cận đã lỗi thời

1 trong những hạn chế của quảng cáo là nó ko nhằm đến 1 đối tượng cụ thể nào, thay vào đó, quảng cáo chỉ cố gắng thu hút sự chú ý của số đông và đo lường theo số lượng tiếp cận được (point of reach). Nhà sản xuất gửi cùng 1 thông điệp đến tất cả các khách hàng – những người có mong muốn về sự khác biệt trong đối xử và cách tiếp cận từ nhà sản xuất.

Nếu như quảng cáo truyền thống cố gắng tiếp cận được càng nhiều người càng tốt thì phương thức mới đã tập trung hơn vào thị trường mục tiêu. Rosenstock (2007) đã chia các phương tiện quảng cáo thành 2 nhánh: quảng cáo không nhằm vào đối tượng cụ thể ( báo chí, ngoài trời, phương tiện điện tử) và quảng cáo nhắm vào các đối tượng cá nhân (direct mail và telemarketing).

One-way marketing

Quảng cáo là phương thức thông tin 1 chiều và khán giả không thực sự tham gia vào quá trình này (Armstrong & Kotler, 2005). Sacharin (2001) cũ

ng đề cập đến hạn chế của quảng cáo dưới góc độ các hoạt động kéo và đẩy của marketing ( pull & push activities). Theo ông, các hoạt động đẩy “ăn trộm”, “cướp” đi sự chú ý của người tiêu dùng nhân lúc họ không để ý trong khi các hoạt động lôi kéo khách hàng lại khiến họ chủ động hơn trong việc tiếp nhận.

Đo lường kết quả quảng cáo vẫn luôn là vấn đề được nhắc đến, Kotler (2008) cho rằng các nhà hiện tại vẫn chưa thể đưa ra được đáp án cho câu trả lời đơn giản về kết quả mang lại từ quảng cáo bởi vì “họ không có 1 mô hình và phương phác thực sự để đo lường” (Elliot, 2005).

Bên cạnh đó, trong thời đại bùng nổ các phương tiện thông tin như hiện nay, điều quan trọng không phải là có bao nhiêu người đang xem quảng cáo, mà là họ có đang chú ý đến quảng cáo đó hay không và có phản ứng sau khi xem không (Vollmer & Precourt, 2008). Điều này cũng có nghĩa là các công cụ đo lường như số lượng xem (gross ratings points), lượng báo phát hành (print circulation)…đã không còn thích hợp trong thời đại mới.

1.3 Những điểm yếu của quảng cáo khiến quảng cáo truyền thống bị hạn chế

Sản xuất biến đổi từ sản xuất đại trà ( one-size-fits-all ) sang thiết kế theo yêu cầu cá nhân ( how-would-you-like-your-car-done ) (Jaffe, 2005). Những thiết kế theo nhu cầu và cá nhân hóa sản phẩm đã không còn ở giai đoạn “có thì tốt” mà là ” buộc phải có”. Chúng ta đã không còn ở trong thời kì cách mạng công nghiệp nữa mà là thời kì của sự khác biệt hóa (Jaffe, 2005).

Thông tin phản hồi đa chiều là nhu cầu mới

Thông tin phản hồi đa chiều là nhu cầu mới

Sự bùng nổ thông tin và các phương tiện truyền thông, các phương thức tiếp cận cũ rơi vào giai đoạn khó khăn để duy trì. Hơn thế nữa, khi mà các phương tiện truyền thông ngày càng trở nên đắt đỏ thì thái độ của người tiêu dùng đối với các hoạt động Marketing cũng đang trở nên thay đổi, những nhu cầu mới đặt ra thách thức cho các nhà tiếp thị và “Điều quan trọng không phải là bạn có lướt qua được người xem hay không mà là đo lường được có bao nhiêu người thực sự đang nhìn theo bạn”. (Câu chính xác của nó là thế này cơ ạ: “It’s more important to reach the people that count than to count the people you reach” (Hoyle, 2002, p.41).

Ries & Ries (2002) trong “Quảng cáo thoại vị, PR lên ngôi” đã đề cập đến sự thiếu lòng tin của người tiêu dùng đối với quảng cáo. Mọi người thực sự không tin vào quảng cáo mặc dù họ ghi nhớ và có thể nhắc lại 1 số quảng cáo nhất định.

Theo Zyman & Brott (2002), nguyên nhân gây ra cái chết của quảng cáo 1 phần là do sự khác biệt trong cách nhìn nhận giữa các đại lý quảng cáo và khác hàng của họ – những người muốn quảng cáo phải giúp tăng trưởng lượng bán trong khi các đại lý quảng cáo lại muốn thiết kế sản phẩm thật ấn tượng, được khách hàng lưu tâm, ghi nhớ và nhắc đến nhưng lại không tìm ra lí do tại sao họ phải mua sản phẩm được quảng cáo.

(from friend of mine: HongLien)

5 sai sót chủ yếu trong khi triển khai online marketing

Có một số bạn gửi email cho mình thắc mắc là thấy mọi người bảo làm online marketing như đăng banner trên các website và dùng dịch vụ Google Adwords là rất tiết kiệm và hiệu quả, nó có thể giúp một website tăng nhanh traffic, nhưng thực tế không được như mong đợi, tại sao lại thế? Bài viết này mình tổng kết 5 nguyên nhân cơ bản nhất.

1. Không có tư vấn tổng thể

Cũng giống như xây nhà, nếu không có kiến trúc sư tư vấn thì tự ta cũng chỉ xây được cái nhà cấp 4, với 4 bức vách và 1 cái máy là cùng, chứ không thể xây được 1 căn nhà 4 tầng hoặc biệt thự  với màu sắc hài hòa, nội thất sang trọng được. Tương tự như vậy, nếu không có người có chuyên môn và kinh nghiệm tư vấn thì chiến dịch quảng cáo của bạn chắc chắn không hiệu quả hoặc không có sức bùng phát.

2. Không phân tích đối tượng khách hàng cẩn thận

Không phải sản phẩm, dịch vụ nào sinh ra là cho tất cả mọi người, từ trẻ đến giá, từ trai đến gái. Mỗi sản phẩm, dịch vụ chỉ phù hợp với một số nhóm đối tượng chính vì thế ta cần phải xác định rõ nhóm đối tượng để biết được lứa tuổi, thói quen, sở thích của họ. Nếu làm không tốt bước này sẽ dẫn đến những sai lầm như sau, từ đó làm giảm hiệu quả của việc làm quảng cáo trực tuyến.

3. Website chọn đăng banner không phù hợp:

vnexpress.net và zing.vn là những website có lượng truy cập hàng đầu Việt Nam, nhưng không có nghĩa là đăng banner lên đó là tốt. Lấy ví dụ: nếu một công ty làm thiết kế nội thất mà đăng banner lên Zing.vn thì chắc chắn là chỉ có vứt tiền qua cửa sổ mà thôi. Vì đối tượng của thiết kế nội thất là những người có độ tuổi ít nhất từ 30 trở lên, kinh tế khá giả, trong khi Zing.vn là portal cho giới teen.

Sau khi thấy đăng banner lên các trang trên không hiệu quả và chi phí lại cao, người bạn tôi có nghiên cứu lại và chuyển sang hướng đăng ở các forum có nhiều người quan tâm đến xây dựng và nội thất nhà ở.  Nhưng kết quả vẫn không được như mong đợi. Khi tôi kiểm tra forum ấy thì thấy là đúng là có nhiều người quan tâm đến kiến trúc và xây dựng thật đấy, nhưng đây lại là forum của những kỹ sư và kiến trúc sư, họ ở đây để trao đổi kiến thức là chính, chứ chẳng mua bán gì ráo.

4. Website đăng banner có lượng người truy cập không nhiều:

Sau khi chọn đúng website (forum) có đúng đối tượng bạn cần thì chỉ nên chọn website này nếu lượng truy cập hàng ngày đạt ít nhất là 20,000 visit/day trở lên.

Để biết được website nào có traffic được như vậy thì bạn có thể dùng công cụ Ad Planner của Google:  https://www.google.com/adplanner

Công cụ này sẽ giúp bạn lọc ra những website nào có traffic cao trong lĩnh vực bạn định quảng cáo.

5. Không kiểm tra độ phổ biến của keywords đã chọn

Một sai sót nữa mà các bạn mới làm quảng cáo trực tuyến khi dùng dịch vụ Google Adwords hay gặp phải nữa là các từ keywork được chọn cho chiến dịch quảng cáo quá ít người dùng tìm kiếm hay là độ phổ biến của từ khóa đấy trên mạng không nhiều.

Ví dụ: có lần 1 khách hàng chuyên bán các thực phẩm chức năng nhờ triển khai Adwords cho họ. Họ nhất quyết yêu cầu là phải đặt các từ khóa như là: thực phẩm chức năng, tảo dinh dưỡng, tảo xoắn. Tuy vậy khi mình tiến hành phân tích và đưa cho khách hàng kết quả thì họ thay đổi ngay ý định ban đầu vì hầu như là một tháng chỉ có vài lần từ  khóa này được tìm kiếm.

Đây là lối suy nghĩ trực tiếp đến một vấn đề. Nếu phương pháp chọn từ khóa theo cách nghĩ trực tiếp như vậy không ổn thì chúng ta dùng phương án gián tiếp và có liên quan. Ví dụ: sau khi quan sát và phân tích mình thấy là các sản phẩm thực phẩm chức năng này có tác dụng chống béo phì, hạn chế tiểu đường,… thì mình quyết định chọn các từ khóa này. Sau khi kiểm tra lại thì thấy rõ là: với từ khóa “béo phì” có hơn 2000 lượt người tìm/tháng và từ khóa “tiểu đường” thì có gần 10,000 lượt người tìm/tháng.

Như vậy, ngoài công cụ nghĩ trực tiếp-gián tiếp-liên quan thì bạn nên dùng công cụ Keyword tool có trong Google Adwords (https://adwords.google.com) để kiểm tra xem các từ khóa đấy có “phổ biến” hay không? Nếu từ khóa đấy dưới 500lượt/tháng thì không nên chọn.

Tất nhiên là có nhiều sai sót khác mà không thể liệt kê hết ở đây được ví dụ như là:; không chuẩn bị sản phẩm, website hoàn chỉnh; nội dung website không cập nhập hàng ngày… nếu có thể mong mọi người chia sẽ thêm.

Quản lý và xử lý e-mail sử dụng GTD

Quản lý và xử lý e-mail

(Hãy tự phân loại e-mail của mình thay vì dùng công cụ đặt luật (rule))

Trong bài “luật 2 phút” tôi có nói đến mô hình Getting Things Done (GTD) của Allen và có vẽ cái mô hình GTD nhưng chưa nói gì thêm đúng không nhẩy?

gtd_principle.jpg

Bạn có thể đọc thêm ý nghĩa của mô hình GTD này ở trên wiki, còn tôi chỉ muốn chia sẻ với các bạn là tôi áp dụng nó trong công việc hàng ngày của tôi như thế nào thôi.

Với những người làm việc văn phòng thì e-mail là một công cụ không thể thiếu để liên lạc và trao đổi công việc: khách hàng gửi e-mail hỏi về sản phẩm, sếp gửi e-mail giao dịch, em út gửi e-mail hẹn hò, bạn bè gọi đi chơi và spam mail gửi e-mail quảng cáo…Tóm lại, công việc của chúng ta gần như lệ thuộc rất nhiều với hệ thống e-mail, nếu chúng ta không biết cách quản lý công việc liên quan đến email thì đôi khi ta bị ngập lụt với nó.

Các hệ thống e-mail như là Microsoft Outlook cung cấp cho chúng ta một công cụ tưởng chừng như là rất hiệu nghiệm là công cụ đặt luật để chuyển e-mail đến những nơi thích hợp. Nhưng tiếc thay công cụ này chỉ dùng để sắp xếp e-mail theo folder là còn có ý nghĩa nhưng nội dung (công việc) trong e-mail đó như thế nào và sử lý ra sao thì việc đặt luật chẳng thể xử lý được. Nói cách khác: Bản chất của việc nhận e-mail là việc nhận và xử lý công việc (gọi chung là quản lý công việc), nên việc sắp xếp e-mail theo một rule đặt trước chẳng có ý nghĩa gì cả, mà việc xử lý công việc liên quan đến e-mail đó mới quan trọng.

Khi đọc GTD tôi thử áp dụng luôn vào việc quản lý công việc liên quan đến e-mail của mình, và kết quả thật tuyệt vời, tôi không còn bị rối tung lên bởi đống e-mail của mình nữa, công việc liên quan đến e-mail được xử lý một cách nhanh gọn, và hợp lý. Đó là cách mà tôi luôn giữ cho hộp INBOX của mình luôn trống (empty).

e-mail_gtd_1.gif

Bước 1: Xóa tất cả các rules mà bạn đã lập, và hãy xác định cho mình là bạn sẽ tự phân loại e-mail bằng tay.

Bước 2: Tạo các folders tối thiểu như trên:

  • Next-Answer: dùng để lưu các e-mail mà bạn sẽ trả lời (hoặc xử lý công việc liên quan) trong thời gian ngắn nhất có thể
  • Waiting List: dùng để lưu các e-mail mà bạn sẽ trả lời (hoặc xử lý công việc liên quan) khi có thêm thông tin bổ xung, hoặc cần phải đợi một điều gì đó nữa.
  • Someday/Maybe: Dùng để lưu các e-mail mà bạn sẽ trả lời trong một thời gian nào đó mà không cần gấp lắm.
  • Archive: Hòm thư dùng để sao lưu các e-mail trong quá khứ (ví dụ những e-mail trong năm 2006)
  • References: Hòm thư dùng để lưu trữ các e-mail tuy bạn không phải xử lý trực tiếp nhưng những thông tin đó có giá trị và có thể bạn sẽ dùng về sau. Ví dụ như e-mail của đối tác giới thiệu về một sản phẩm mới.
  • Trash: Đây là hòm thư để bạn vứt những mail rác, mail không liên quan đến và không phải việc mà mình xử lý.

Bước 3: Tự phân phối và quyết định phương thức xử lý e-mail theo mô hình GTD.

(Bạn xem lại 1 lần mô hình GTD ở trên)

Vì không có rule nào được đặt nên tất cả các e-mail mới đều nằm trong hòm INBOX, khi e-mail đến, việc đầu tiên là bạn đọc lướt nội dung của nó (What is it?) và quyết định xem nó xứng đáng phải đặt vào đâu (actionable?). Nếu e-mail có nội dung chẳng liên quan đến mình thì ngay lập tức kéo thả vào hòm Trash (hoặc nhấn phím delete cho nhanh). Xin lưu ý với các bạn là các hòm thư web-based hiện nay(như là gmail &yahoo) đều đã hỗ trợ tính năng kéo thả nên việc vứt e-mail vào đâu đơn giản như là ném một vật vào thùng rác hay trưng nó trên tủ kính.

e-mail_drap_n_drop.gif

Trong trường hợp e-mail đó có nội dung không liên quan đến mình, nhưng nội dung (hoặc file đính kèm) có thể mình sẽ dùng đến về sau, thì bạn kéo-thả nó vào hòm thư “References”.

Còn nếu e-mail mà bạn vừa đọc có liên quan đến mình (Actionable), và bạn có thể trả lời/xử lý ngay trong 2 phút thì bạn nên trả lời ngay. Còn nếu lớn hơn thì bạn kéo/thả vào hòm “Next Answer”.

Hòm “Waiting” dùng để bạn chứa các e-mail mà bạn sẽ xử lý công việc liên quan khi có thêm thông tin nữa. Ví dụ như là: bạn chỉ trả lời tỉ lệ giảm giá (discount) cho khách hàng khi có được e-mail confirm của sếp.

Hòm Someday/Maybe: Dùng để lưu các e-mail mà bạn sẽ trả lời trong một thời gian nào đó mà không cần gấp lắm.

Với cách sử dụng e-mail như trên tôi luôn quản lý các công việc rất trôi chảy và hợp lý và luôn giữ cho INBOX mình luôn empty.

Bill Gates đùa dại & “Buzz” marketing

Bill quả là thiên tài trên gần như tất cả lĩnh vực mà ông làm. Có lẽ bài talk của Bill ở TED cũng chỉ bình thường và chỉ có những nhân vật cao cấp tham gia TED và những người hay vào TED.com mới biết đến bài nói này. Tuy vậy, với chiêu bài “thả muỗi” Bill đã tạo “buzz” (Buzz=hành động làm nhiều người bàn tán và truyền bá đến những người khác). Bill đã làm cho những nhân vật tham gia hôm ấy phải thốt lên kinh ngạc và viết những dòng cảm nghĩ của mình lên Blog của họ. Đây đều là những nhân vật rất nổi tiếng (như là President của eBay) và tất nhiên từ  những blog này có hàng triệu ngưới sẽ biết đến hành động thả muỗi này và tiếp tục bàn luận và phán tán đến bạn bè họ (ví dụ như tui :D . Và việc bàn luận và phân tán lại tiếp tục và tiếp tục. Và kết quả là clip của Bill được nhanh chóng lan ra toàn cầu trong vòng chục tiếng đồng hồ.

Thật tuyệt vời, bằng cách tạo Buzz này Bill đã đạt được mục đích của mình. Ông muốn thông điệp về những người nghèo ở các nước đang phát triển (như Việt Nam) đang phải đối mặt với căn bệnh sốt rét chết người  như thế nào được biết đến trên toàn thế giới và hy vọng quỹ “Bill & Melinda Gates” của ông/bà Bill nhận được nhiều sự đóng góp hơn, góp phần giúp những người dân nghèo khổ ngăn chặn căn bệnh này.

Clip Bill Gates phát biểu và thả muỗi:

Survey 1 chút nhỉ?

The top 5 strategic technologies for 2009

Follow HP article the top five strategic technologies that SMBs should take into account are:
1. Cloud computing
2. Virtualisation.
3. Social software and social networking.
4. Unified communications.
5. Green IT

You can also listen to the comments of Gartner officers in Youtube

Tell us, in your own vision:

1. what are the strategic technologies that the Vietnamese SMBs should take into account in the next 2 years

2. In other perspective, in the next two years the economic criss is not stop and many experts believe that firms should save their money by not invest in any long-term (or strategic) project, so what are the best-practice technologies that you advise firms to invest on

Nghiên cứu thị trường của ACNielsen: “Xu hướng tiêu dùng hiện đại hơn”

Được sự cho phép của một người bạn ở ACNielsen (công ty cung cấp dịch vụ nghiên cứu thị trường hàng đầu có mặt tại VN), tôi post tóm tắt kết quả nghiên cứu về xu hướng tiêu dùng của người tiêu dùng Việt Nam trong thời gian vừa qua.

Khảo sát cho thấy rằng người Việt có thói quen đi siêu thị nhiều hơn và số lượng cửa hàng bán lẻ hiện đại tăng lên nhanh chóng với 72 thương hiệu mới trong năm 2008.

A. Biểu đồ kết quả:

Sự lạc quan về tình hình kinh tế của người Việt

Sự lạc quan về tình hình kinh tế của người Việt

Mức độ ưa thich hàng công nghệ cao

Mức độ ưa thích hàng công nghệ cao của người Việt

Người Việt có xu hướng s� dụng các kênh mua hàng hiện đại

Người Việt có xu hướng sử dụng các kênh mua hàng hiện đại

Mức độ HOT của thị trường bán lẻ Việt Nam

Mức độ HOT của thị trường bán lẻ Việt Nam

B. Nguyên văn phân tích của ACNielson

Phân tich tóm lược của ACNielson

Phân tích tóm lược của ACNielsen

C. MyComments

- Trong bài phân tích thị trường này có nói tới khái niệm kênh mua sắm truyền thốnghiện đại nhưng lại không nêu cụ thể đó là hình thức nào. Tôi cho rằng “kênh truyền thống” chắc là các cửa hàng nhỏ, tự doanh, hay các cửa hàng bách hóa tổng hợp có mặt ở khắp mọi nơi gần khu dân cư; kênh hiện đại chắc ám chỉ đến hệ thống bán lẻ, siêu thị hiện đại.

- Nếu trong “kênh hiện đại” không có kênh online thì quả là đáng tiếc.Trong năm vừa qua xu hướng mua hàng online cũng dần dần phát triển (mặc dù chỉ ở mức sơ khai, chủ yếu với chức năng quảng cáo sản phẩm và giao tiếp với khách hàng). Hy vọng phiên bản đầy đủ của bản khảo sát thị trường này có phân tích đầy đủ các “kênh hiện đại” này.

Khảo sát bà con 1 chút:

Teamwork in academic environment, kinh nghiệm cóp nhặt và ghi lại

Những gì Ngọc viết sau đây có lẽ là không mới với nhiều người, nhưng tớ nghĩ là vẫn có ích và mong mọi người cùng bổ xung những quan điểm và kinh nghiệm quý báu của mình nhằm rèn luyện kỹ năng tổ chức và quản lý hoạt động nhóm được một cách tốt hơn.


0. Giới thiệu

Trong thời gian học MBA đã mang lại cho Ngọc khá nhiều kinh nghiệm khi tổ chức và quản lý và hoạt động theo nhóm. Gần như tất cả các môn học Giáo Sư đều bắt sinh viên làm các đề tài kha khá lớn và phức tạp, đòi hỏi tính teamwork phải cực cao. Nhóm mà Ngọc mô tả dưới đây tầm từ 8 đến 9 người, đa phần là những anh/chị/em đã đi làm và có rất nhiều người là manager, chính vì thế nên thời gian nhóm gặp nhau thường rất ít và cái “tôi” thường xuất hiện nhiều trong nhóm. Ngọc không nghĩ cách giải quyết của mình là hay, nhưng nó work-well :) .


1. Tổ chức

Thường thì ai cũng nghĩ là một nhóm phải có một nhóm trưởng và có thể có 1 hay nhiều nhóm phó phụ trách cái gì đó trong một thời gian dài. Nhưng nhóm 6 tớ thì đang thử nghiệm mô hình khác: Mỗi một assignment sẽ có 1 nhóm trưởng. Nhóm tớ nghĩ rằng ai cũng có thể là nhóm trưởng và bản chất là khá nhiều người thích lead, vậy tại sao không để cơ hội để mọi người tập lead. Và một điều nữa là khi mọi người lead thì mọi người mới cảm nhận được trách nhiệm của người lead để khi họ làm member họ sẽ hiểu hơn những “vấn đề” của người lead sẽ gặp phải.

2. Luật lệ:

Rõ ràng là khi lập nhóm cần phải có những luật lệ để kiểm soát và nâng cao trách nhiệm của mọi người. Một số luật lệ mà khi trao đổi với một số nhóm trưởng thấy họ có áp dụng là:

- Đi họp muộn phạt xxx đồng
- Đi họp không chuẩn bị phần được giao nghiêm chỉnh phạt …. đồng
- Không đưa ra các nhận xét kiểu cảm tính. Các nhận xét, đánh giá, ý kiến cần phải có evidences hợp lý.
- Khi có vấn đề tranh cãi thì lấy biểu quyết của những người có mặt. Khi biểu quyết vẫn chưa giải quyết được thì nhóm trưởng sẽ quyết định. Khi đã quyết rồi thì không được càm ràm kiểu như là: “Thấy chưa, đáng lẽ chọn cách của tôi thì….”.
- Thông báo gặp nhau qua tin nhắn, nếu nhận được tin phải reply để confirm.

4. Môi trường trao đổi thông tin

http://www.conceptdraw.com/en/purchase/mindmap/)

(source: http://www.conceptdraw.com/en/purchase/mindmap/)

Off-line:
Nên chọn những môi trường yên tĩnh và riêng tư để họp hành để tránh những nhiễu không đáng có. Ví dụ khi bạn vào 1 quán cafe họp thì bạn vừa gây phiền với những người bên cạnh trong khi các thành viên lại không tập trung do nghe nhạc, lướt web và … ngắm các em :D . Tốt nhất là chọn một phòng họp ở cty ai đó, vừa riêng tư lại vừa có đủ các phương tiện giúp ích cho việc họp như là bảng, projector…

Công cụ MindJet (www.mindjet.com) sẽ rất hữu dụng để thực hiện việc làm việc nhóm, brainstorming. Với công cụ này, chúng ta vừa có thể ghi biên bản cuộc họp dễ dàng, vừa note các ý kiến của mọi người và sau đó sắp xếp lại theo một trật tự và logic hợp lý.

On-line:

Email là phương tiện không quá hay để ta chọn để trao đổi trực tuyến, vì:
- Hiện tượng mất email (đặt biệt với các file đính kèm)
- Một số người không truy cập mail bên ngoài công ty.
- Không theo dõi được thường xuyên một chủ đề

Nên dùng những site có cấu trúc forum, cho phép upload file, gửi mail về khi có bài mới…như kiểu Googlegroup hoặc NING (cái đang dùng) để làm môi trường trao đổi online.

Có thể dùng Yahoo chat để chatting trực tuyến.

5. Những điều khó giải quyết

Cái tôi nên hạn chế khi làm việc nhóm

"Cái tôi" nên hạn chế khi làm việc nhóm

Một trong những điều khó giải quyết nhất là việc tranh cãi. Học MBA thì ai cũng có cái tôi cao, vậy phải giải quyết như thế nào?
Trong đa số tình huống chúng ta thường mắc phải trường hợp như câu chuyện “Con khỉ” như sau. Câu chuyện này có 1 anh đã kể cho chúng tôi để dạy về bài học làm việc trong một nhóm có nhiều người có cái tôi cao.

Có một người có một con khỉ trên vai. Mọi người đều attack con khỉ nhưng người có con khỉ trên vai nghĩ là họ tấn công mình. Anh ta tấn công lại và tấn công cả những con khỉ trên vai những người kia. Vậy để giải quyết mình cần làm gì? Mình cần đặt con khỉ lên trên bàn, cùng nhau đi quanh và bàn bạc cũng như bắn con khỉ xả láng. Cuối cùng người có con khỉ ban đầu mang con khỉ lên vai và mang nó về xử lý nó với tất cả ý tưởng mà anh ta đã nghe.

Khi xử lý các vấn đề phức tạp (hầu hết mọi vấn đề), mọi người hay lẫn mình đang làm gì, tìm hiểu vấn đề hay đưa ra giải pháp. Đồng thời, mọi người hay thiếu một cách cơ bản để đặt con khỉ lên bàn và cùng xem xét nó. Vấn đề ơ đây là chúng ta cùng phải hiểu là: chúng ta không nên tấn công người raise lên vấn đề, mà hãy tấn công trực tiếp vào vấn đề đó..

Vì vậy thay vì nói: Các ông/bà làm như thế này có mà ăn cám” thì nên chuyển lại là: Phương án này không ổn, vì….”. . Ở đây chủ ngữ “các ông/bà” là người mang con khỉ; còn “phương án này” là con khỉ. Chúng ta cần bắn phá “con khỉ” chứ không phải người mang nó.

6. Những điều nên làm

- Nhóm trưởng phải là người máu và rất máu, luôn luôn cho các thành viên cảm thấy mình không bao giờ hết năng lượng.
- Để khuyến khich mọi người cùng tham gia vào chuyện trao đổi nên đặt ra các câu hỏi có tính chất challenge và specific kiểu như là: “Nếu phải chọn 3 câu hỏi để hỏi khách hàng, mọi người chọn 3 câu nào?”…
- Học chán thì phải chơi. Đã chơi thì phải máu.

Một số kinh nghiệm cóp nhặt cùng chia sẽ với mọi người.

Sample & Simple job analysis for IT service firm

My on-going slide:

Tổng hợp vài phương án online marketing

Phải nói rằng công nghệ, phương án và thị trường quảng cáo online ở Việt Nam đã thay đổi một cách chóng mặt. Cách đây khoảng một năm, gần như ở Việt Nam không xuất hiện hình thức quảng cáo nào khác ngoài đăng Banner trên các website tin tức. Nhưng câu chuyện của online ad hiện nay hoàn toàn khác. Quảng cáo bằng banner không còn chiếm 1 vị trí độc tôn như trước đây nữa, thay vào đó là các hình thức quảng cáo phong phú khác, tạo ra nhiều lựa chọn mới cho nhiều đối tượng mua quảng cáo khác nhau
Bài viết này sẽ giới thiệu một số (sợ là không đủ) các hình thức quảng cáo trực tuyến mới mà nhiều bạn đọc chưa biết đến.

1. Quảng cáo banner:

Đây là hình thức quảng cáo cây đa, cây đề trong làng quảng cáo Việt Nam, mặc dù có nhiều sự cạnh tranh từ các phương thức quảng cáo mới nỗi khác (sẽ trình bày sau đây) nhưng hình thức quảng cáo này vẫn chiếm thị phần đa số.
Giá đặt banner trên những site như vnexpress, dantri có thể lên đến 100 triệu VNĐ.

Ngay trong thị phần quảng cáo banner, trong một năm vừa qua, các trang tin tức này cũng chịu sự cạnh trang không kém phần từ các forum cộng đồng như là: 5giay.com, webtretho.com, tinhte.com…Một trong điểm thuận lợi của việc đặt banner vào các forum cộng đồng là do các cộng đồng này là các nhóm đối tượng rõ ràng hơn các trang tin tức.

2. Quảng cáo dựa trên kết quả tìm kiếm (Search engine)

Đây là một phương án quảng cáo được ưa chuộng nhất và cũng chiếm thị phần lớn nhất trên thế giới hiện nay, với người dẫn đầu là Google. Hơn 90% người sự dụng internet trên thế giới sử dụng Google để tìm kiếm. Doạnh nghiệp muốn quảng cáo sản phẩm, website của mình chỉ cần đăng ký các từ khóa (keyword) liên quan đến sản phẩm với Google. Và khi người sử dụng sử dụng từ khóa đấy để tìm kiếm trên Google thì mẫu quảng cáo của doanh nghiệp sẽ hiện lên ở những kết quả đầu tiên.


Ở Việt Nam, các doanh nghiệp cũng đã dần quen và sử dụng dịch vụ quảng cáo này. Tuy nhiên, dường như chỉ có những doanh nghiệp trẻ, hoặc doanh nghiệp có đội ngũ IT mạnh chú ý đến phương án quảng cáo này. Có vẻ để hiểu và quyết định dùng Google Adwords thì cần có thêm những người tư vấn cho doanh nghiệp.
vietnam_search_engine
Tôi thật sự ấn tượng với sự trở lại của Tinh Vân với sản phẩm Xalo.vn. Đây mới đúng là một Search Engine thuần Việt nếu so sánh với một site được PR rầm rộ trước đó là Monava.vn. Liệu Xalo.vn có đánh bật được Google.com hay không thì còn phải đợi xem một thời gian nữa. Liệu với vị thế là một Market Follower thì Xalo dùng phương thức marketing gì để chiếm dần thị trường search đây?
Một bài viết liệt kê và đánh giá khá đầy đủ các Search Engine ở đây.

3. Quảng cáo in-text

Phong trào mạng xã hội (Social Networking) thực sự là phát triển một cách mạnh mẽ trong vài năm gần đây, kéo theo đó là số lượng bài viết (content) tăng với tốc độ chóng mặt. Ngoài kênh báo chí truyền thống, thì ngày nay Blog, Forum dần cũng được xem như là một kênh thông tin có giá trị không kém vì tính nhanh chóng và lan tỏa của nó.

Google Adsense

Google Adsense

Nếu bạn đăng ký trở thành người đăng quảng cáo (publisher) cho một nhà cung cấp nào đó, ví dụ là Google, thì nhà cung cấp sẽ hiện thông tin quảng cáo với một số từ khóa trong bài viết của bạn
vietad
Ngoài Google với dịch vụ Google Adsense khá phổ biến thì hiện nay đã có một số công ty đã bắt đầu làm với engine riêng cho mình như là www.Vietad.vn

4. Quảng cáo dựa trên nội dung hình ảnh (video clip)

Gần tương tự như in-text, loại hình quảng cáo này xuất hiện trên các cộng đồng chia sẽ video clip. Quảng cáo có thể xuất hiện bên cạnh, trước, giữa hoặc sau đoạn video clip đấy. So với in-text, thì việc hiển thị quảng cáo phù hợp với nội dung của video khó khăn hơn, vì rất khó cho một chương trình máy tính nào có thể biết nội dung của đoạn video clip là gì, trong khi lại khá dễ biết nội dung của đoạn văn bản là gì bằng cách nhận biết các từ khóa trong đoạn văn bản.
clipvn
Youtube.com là website chia sẽ nổi tiếng nhất trên thế giới và phiên bản clone nổi tiếng nhất Việt Nam là www.clip.vn. Trong thời gian vừa qua đã có những đối thủ mới cho clip.vn và một trong những số đó là anh chàng Vinagame với sản phẩm video.zing.vn.

5. Quảng cáo rao vặt

Đây là hình thức quảng cáo rất phù hợp với các cá nhân, công ty nhỏ, có ngân sách dành cho quảng cáo eo hẹp (nhỏ hơn 1,000,000 VNĐ/tháng). Người dùng có thể đăng ký một tài khoản và tự do đăng mẫu tin dưới dạng văn bản và có cả chèn ảnh.


Các website rao vặt nổi tiếng ở Việt Nam hiện nay có: www.rongbay.vn; raovat.vn; muaban.vn…
Nếu kiên nhẫn, biết cách tổ chức các mẫu tin cũng như việc làm “ấn tượng” mẫu tin trong hàng trăm mẫu tin trong cùng một catalog thì hiệu quả của quảng cáo rao vặt này chẳng kém các hình thức thức quảng cáo đã kể trên trong khi chi phí bỏ ra rất thấp.